2:12 am - 10 August, 2018

Nước Pháp Và Những Câu Chuyện Paris

“Cả ngày hôm đó, Marie háo hức dẫn hai đứa tôi đi một tour Paris, dọc theo sông Sein lộng gió tới nhà thờ Đức Bà Notre Dame với những máng xối nước gargoyle đặc trưng kiến trúc nhà thờ Gothic; dạo bộ qua những vỉa hè dài lát đá rợp bóng cây, qua những tượng đài, quảng trường rộng lớn; nghịch ngợm băng sang những ngã tư đường khi còn chưa dứt đèn đỏ rồi vừa hú hồn vừa cười ngặt nghẽo; ….”

Từ Amsterdam, qua Rotterdam – Hà Lan và trung chuyển qua thủ đô Brusel của Bỉ, hai đứa tôi tới Paris trên chuyến Ouibus – một chuyến bus xuyên Châu Âu của Pháp.

Đó là một buổi chiều Paris chưa tắt nắng và gió thì lồng lộng. Vẫn là một nền khí hậu ôn đới mát mẻ, nắng trong gió ngọt, nhưng Paris lại có vẻ kém mát lạnh hơn Đức, Séc và cũng ít gió hơn Hà Lan. Nhưng có lẽ, chính vì vậy mà tôi lại thấy có phần hợp với cơ địa nhiệt đới của mình hơn, sau một thời gian “nhấm nháp” những đêm hè rét ngọt ở Frankfurt, lạnh se sắt ở Moraska Trebova – Séc và những buổi sáng hun hút gió, rung bần bật những ô cửa sổ trắng ở Haarlem – Hà Lan.

Ấn tượng đầu tiên của tôi về Paris là những quán café nhỏ nhắn trải dọc gọn gàng theo vỉa hè ngăn nắp; và những khoảng trời nắng xanh lơ, lọc qua một lớp những tán cây lá cam kì lạ.

Ấn tượng tiếp theo là một cái bản đồ lớn, được đặt ngay cửa xuống ga tàu điện ngầm, mô tả chi tiết và chằng chịt hệ thống đường tàu điện ngầm Paris, nhìn thì phức tạp và có vẻ không thể hiểu nổi, nhưng thực ra đã được sắp xếp và bố trí chuẩn xác và có logic. Tất nhiên, với kinh nghiệm đã từng đến Paris một lần trước đó rồi, nên anh là người có thể dễ dàng đọc ra logic chằng chịt đó, còn với tôi khi lần đầu nhìn vào, chúng thực sự chỉ là một mớ bòng bong rối rắm những đường xanh đỏ tím vàng và bùng nhùng những lộ tuyến đánh số.

Một, hai ngày đầu, chúng tôi chưa tới tháp Effiel ngay và luôn như các khách đi tour khác. Vẫn cái phong cách tha thẩn và nhẩn nha từng góc phố yên tĩnh nhất, để mong lần mò ra một vài sợ dây linh hồn của thành phố, nằm ẩn náu đâu đó trong những con hẻm, góc khuất bình thường, giản dị.

Tối đến, chúng tôi dắt díu nhau lang thang tìm đến khu phố cổ Le Marais của thủ đô Paris. Đó là một trong những khu phố cổ xưa nhất của Paris, nơi vẫn còn giữ được nguyên vẹn cấu trúc những con đường ngõ nhỏ, lát đá xanh, chạy đan vào nhau như mê cung – một kiểu kiến trúc đường phố phổ biến của Paris trung cổ, mà trong suốt giai đoạn Napoleon thống trị, ông đã kiến thiết hầu hết phần còn lại của Paris thành những khu vực quảng trường và đại lộ rộng lớn, nhằm phục vụ việc trị vì dân cư của mình và thể hiện sức mạnh cường quyền của Nhà nước và Quân đội.

Vì là một phần kiến trúc nguyên vẹn của Paris cổ, nên khi đi dạo quanh co trong nhưng con phố, góc hẻm của Le Marais trong buổi đêm thứ hai ở Paris, tôi dường như đã có thể mường tượng ra được cả một Paris của những thế kỉ XII, XIII – một Paris nhỏ nhắn, gần gụi với những con phố thuần túy khiêm nhường, chứ không phải là một kinh đô ánh sáng hoa lệ mà người ta vẫn thường hình dung về Paris như bây giờ.

Loanh quanh vào tới khu ẩm thực, hai đứa tôi gọi đại một gói French fries từ một quán nhỏ và phát hiện ra một sự thật rằng: French fries gọi random ở đây mà không có bạn locals chỉ dẫn thì chỉ có mức dở tệ. Chúng tôi vừa nhai trệu trạo French fries chất lượng trung bình ấy vừa nghĩ tới French fries ngon khủng khiếp mà hai đứa đã được thưởng thức ở mấy thị trấn nhỏ ở Séc và Hà Lan.

Dẫu sao, gói French fries vô duyên đó cũng chẳng thể phá hỏng được cả buổi tối đi dạo mỏi nhừ đôi chân của hai đứa ở Le Marais, nơi chúng tôi tìm được những góc vỉa hè khuất, ngồi vân vê những điếu thuốc lá cuốn chậm rãi và nhàn tản, ngước lên trên sẽ thấy những bức tường nhà sơn vàng sậm với những ô cửa sổ gỗ trắng, kiểu dáng y hệt những ô cửa sổ cổ ở Hà Nội từ thời Pháp. Thi thoảng, từng tốp thanh niên Pháp choai choai tuổi teen đảo qua đảo lại, chém gió rôm rả, bằng một thứ tiếng Pháp nghe mượt như hót.

Ngày hôm sau, chúng tôi gặp lại cô bạn Pháp Marie, người mà chúng tôi từng có thời gian chung lớp thời Đại học ở Ngoại Thương và cùng chia nhau những kỉ niệm quẩy bar tưng bừng phố cổ. Sau bốn năm, Marie trông vẫn vậy, vẫn cái dáng đậm thấp dễ thương nhưng linh hoạt và mái tóc vàng xoăn xù cá tính. Ngồi trong một góc café nhỏ với ba ly Espresso và một giỏ bánh mì Croissants, ba đứa tôi ôn lại những kỉ niệm cũ, những khoảnh khắc quẩy bar điên rồ, nhắc lại những cái tên các cô cậu sinh viên trao đổi Pháp và Đức từ thời Đại học và update thêm những câu chuyện mới của cả ba đứa từ thời tốt nghiệp Đại học và Marie quay về Lyon. Chúng tôi kể cho Marie những suy nghĩ về lối sống đa giá trị và định nghĩa mới về sự giàu có mà chúng tôi vẫn thường hay trăn trở, và cô có vẻ rất nhanh để hiểu được những gì chúng tôi chia sẻ, dù là đã lâu không gặp.

Cả ngày hôm đó, Marie háo hức dẫn hai đứa tôi đi một tour Paris, dọc theo sông Sein lộng gió tới nhà thờ Đức Bà Notre Dame với những máng xối nước gargoyle đặc trưng kiến trúc nhà thờ Gothic; dạo bộ qua những vỉa hè dài lát đá rợp bóng cây, qua những tượng đài, quảng trường rộng lớn; nghịch ngợm băng sang những ngã tư đường khi còn chưa dứt đèn đỏ rồi vừa hú hồn vừa cười ngặt nghẽo; thẳng tiến tới bảo tàng Louvre huyền thoại, nơi lưu giữ bản gốc kiệt tác kinh điển “Nàng Mona Lisa” của danh họa Da Vinci; tới thăm tháp Effiel – biểu tượng của kinh đô Paris… Tới mỗi nơi trong vô số những địa danh nổi bật của Paris ấy, Marie lại cố gắng giải thích mọi chi tiết và câu chuyện mà cô có thể biết từ góc độ “dân bản địa”, mặc dù quê hương của cô là Lyon – trên đường đi về phía miền Nam nước Pháp.

Cái cảm giác tới Paris vào mùa hè du lịch khi có và không có người bạn địa phương đi cùng quả thật rất khác biệt. Khi không có Marie đi cùng, chúng tôi thấy một Paris thật xô bồ, nhốn nháo đủ màu sắc và mùi hương ngoại lai pha trộn như một nồi thập cẩm màu mè lẫn lộn, đặc biệt ở những khu tàu điện ngầm và điểm du lịch, mặc dù sông Sein vẫn đẹp và tháp Effiel thì vẫn sừng sững hoàn hảo. Khi đi cùng Marie, chúng tôi mới lại thấy một Paris thật dễ thương, với những niềm vui nhỏ nhắn tung tăng trong từng đoạn phố, từng góc công viên hay thậm chí là ở ngay lúc ăn trưa trong một quán Mc Donald rất đỗi bình thường, với những câu chuyện buồn cười ngặt nghẽo.

Marie giống như một nguồn năng lượng Paris thực sự, cứ tung tăng dẫn chúng tôi qua khắp những con ngõ, ngả đường, những quán café và những quầy hàng thực phẩm. Tôi gọi đùa cô là “my vitamin bitch” hoặc là “my Fritch – my French bitch” và cô gọi tôi là “my Vitch – my Vietnamese bitch”.

Ngày thứ ba ở Paris rơi đúng vào ngày sinh nhật tôi, hai đứa tôi lại cùng Marie đón một khoảnh khắc sinh nhật vui vẻ với chiếc bánh ngọt nhỏ xíu xinh xinh mà cô mua cho tôi, ở một quán café quen của Marie. Rồi Marie dẫn hai đứa tôi đi siêu thị địa phương mua đủ các loại cheese, jambon và beers đặc trưng của Pháp, sau đó là một màn picnic đã đời trên bãi cỏ vườn Luxembourg mát rượi. Những miếng cheese béo ngậy và những miếng xúc xích hun khói tí hon tay chảy trong miệng và dường như ngon hơn hẳn khi được nhấm nháp theo phong cách picnic bãi cỏ, xung quanh là la liệt những nhóm bạn trẻ Pháp cùng chia nhau mảnh không gian vườn Luxembourg xanh rờn và cũng đang thưởng thức bữa picnic của họ.

Rồi Marie dẫn hai đứa tôi rảo bước khắp khu vườn Luxembourg rộng lớn để tìm vị trí đặt tượng Nữ Thần Tự Do phiên bản tí hon mà người Pháp tự thiết kế và giữ lại cho mình, sau khi đã tạo ra bức tượng Nữ Thần Tự Do khổng lồ và đem tặng nước Mỹ. Đó cũng là một câu chuyện thú vị mà tôi cứ khúc khích mãi khi nghe Marie kể lại. Người Pháp tạo ra hai bức tượng Nữ Thần Tự Do, một bản khổng lồ và một bản tí hon, rồi đem tặng người Mỹ bức tượng khổng lồ đặt ở thành phố New York, để giữ lại cái phiên bản bé xíu này cho riêng mình đây. Nhìn bức tượng Nữ Thần Tự Do tuy nhỏ nhưng vẫn đường bệ và đầy cảm hứng, đặt khiêm nhường trong một góc vườn Luxembourg, tôi bắt đầu mơ tưởng về một ngày nào đó tới đây, hai đứa tôi sẽ đứng ngay dưới chân bức tượng Nữ Thần Tự Do khổng lồ ở New York, Mỹ và nhớ lại cái buổi chiều vườn Luxembourg với cô bạn Pháp Marie, và bức tượng Nữ Thần nhỏ xinh của Pháp này.

Dạo chơi tới cuối buổi chiều, chúng tôi chia tay Marie vì cô lại phải bắt một chuyến tàu quay về Lyon cách thủ đô Paris những ba trăm cây số, kèm theo những lời hẹn hoặc Marie sẽ quay trở lại Hà Nội hoặc hai đứa tôi sẽ trở lại Paris.

Chia tay Marie, chúng tôi lại gặp gỡ với một anh bạn người Việt đang theo học Tiến sĩ Toán cơ ở Paris, ngồi nói dăm ba câu chuyện dưới cái nắng vườn chiều Luxembourg rồi rủ nhau đi ăn bánh L’Crêpes đặc trưng của Paris. Bánh L’Crêpes trông khá đơn giản, chỉ như bánh bột mì chiên giòn, bên trong nhân ngọt với các loại mứt hoa quả chuối xoài đủ cả hoặc nhân mặn với các loại cá ngừ, phomai…, nhưng dẫu sao ngồi ở một quán vỉa hè Paris và ăn L’Crêpes thì vẫn cứ là hết ý, giống như ngồi ăn phở là phải ở Hà Nội mà ăn bánh rán ngon thì phải ngồi một góc chợ quê.

Tới chiều muộn, hai đứa tôi lỡ hẹn với cô bạn người California mà chúng tôi gặp ở Haarlem Hà Lan, do cô gái trẻ lớ xớ đi lại một mình bị trôm chỉa mất ví và thẻ tín dụng, phải loanh quanh đi “get the shit together”. Hai đứa tôi hẹn cô sang hôm sau rồi lại loăng quăng đi dạo cho hết buổi chiều hè Paris. Thẩn thơ đến tối, cơ duyên thế nào, chúng tôi lại tạt ngay vào một hội chợ chiếu phim miễn phí cho người dân Paris, để tưởng nhớ nữ ngôi sao màn bạc huyền thoại người Pháp Jeanne Morreau, người vừa qua đời ở tuổi 89, đúng cái ngày chúng tôi vừa đặt chân tới Paris.

Đó là một lễ hội chiếu phim ngoài trời trên bãi cỏ rộng thênh thang, có tên là Cinéma en Plein Air à La Villette. Một màn chiếu khổng lồ được dựng lên với dàn âm thanh hai bên. Gần bãi cỏ là những quầy bar, thực phẩm bán đồ ăn, đồ uống dã ngoại và khắp nơi trên bãi cỏ là những nhóm bạn trẻ, cặp đôi hoặc gia đình người Pháp đã tụ tập thành từng nhóm, ngồi bệt xuống cỏ hoặc dựng ghế nằm để chuẩn bị vừa ăn uống picnic vừa thưởng thức những bộ phim Pháp huyền thoại miễn phí.

Hai đứa tôi cũng kiếm một chỗ ngồi bệt trên bãi cỏ, trải hết những đồ ăn còn lại trong balo ra và bắt đầu nhấm nháp chờ chiếu phim. Đó là một trải nghiệm hết sức thú vị và mới mẻ với hai đứa tôi: một buổi movie nite của Pháp ngay trên đất Paris, với toàn những bộ phim Pháp và xung quanh là toàn những người bạn Pháp đủ lứa tuổi, nằm ngồi lẫn lộn và thư giãn bên cạnh nhau, vẫn riêng tư nhưng cũng thật gần gụi và thoải mái, cảm giác như một buổi tụ tập xem phim cùng những người bạn, với la liệt đồ ăn uống bày xung quanh mình. Tối ấy, chúng tôi xem trọn vẹn hết một bộ phim trinh thám đen trắng có tên là Ascenseur pour l’échafaud hay Elevators to the Gallows, tuy toàn bộ nói bằng tiếng Pháp nhưng vì các tình tiết mang tính gay cấn và mô tả nên hai đứa vẫn xem chăm chú và gần như hiểu hết nội dung. Trong phút chốc, tôi cứ tưởng mình như người dân Pháp sống ở Paris vậy.

Chiều ngày hôm sau, chúng tôi gặp lại Kimmie – cô bạn trẻ người Mỹ như đã hẹn và bỗng dưng trở thành hướng dẫn viên dẫn cô bạn đi tour vườn Luxembourg, như cái cách cô bạn Marie đã dẫn chúng tôi đi ngày hôm qua. Tôi kể lại câu chuyện hai phiên bản tượng Nữ Thần Tự Do cho cô bạn Mỹ và chúng tôi lại có một buổi picnic thư giãn trên bãi cỏ, chia sẻ những câu chuyện về văn hóa, chính trị và lối tư duy open-mind. Kimmie còn trình diễn vài cú nhảy santo cheerleading và không quên dặn chúng tôi hãy gọi cho cô khi có dịp tới California.

Tối ấy, hai đứa tôi về hostel và mua cả một bữa tối thịnh soạn với rượu vang, cheese, các loại jambon, xúc xích, thịt nguội…và mấy trái đào tươi mọng. Chúng tôi tự tạo ra cho mình một đêm ngắm trăng thưởng vang thượng hạng ở ngay ban công lộng gió của hostel, nhìn lên bầu trời xanh đen trong vắt và một mảnh trăng vàng óng treo lơ lửng sau những tấm mành gió phe phẩy. Đúng là đôi khi, bạn chẳng cần có thật nhiều tiền để được thưởng thức một bữa tối thưởng trăng và vang thượng hạng; chỉ cần bạn biết cách sáng tạo và thưởng thức theo một cách thượng hạng của riêng bạn, là đã đời lắm rồi. Hai đứa tôi đã sáng tạo nên một buối tối thưởng vang, ngắm trăng Paris kì thú và viên mãn như thế, chỉ với trên dưới 10 Eur.

Một kỉ niệm cuối cùng không thể quên ở Paris của hai đứa tôi là cái buổi tối đi tàu điện ngầm ra khu vực tháp Effiel để chiêm ngưỡng lại tòa tháp lung linh vào buổi đêm, trước khi rời Paris. Tháp Effiel buổi tối quả nhiên lại đẹp huyền ảo theo một cách rất riêng và sông Sein buổi đêm thì cũng mát lộng và huyền bí khó cưỡng. Đúng 12h đêm khi đang chuẩn bị ra bến tàu điện ra về, thì hai đứa phát hiện ra một tháp Effiel hoàn toàn khác: Tháp Effiel nhấp nháy. Không còn là một màu vàng rực rỡ chạy đồng nhất một mạch từ chân lên tới ngọn tháp nữa, mà giờ đây, đúng lúc nửa đêm này, toàn bộ tòa tháp khổng lồ bắt đầu đổi sang màu bạc lấp lóa và nhấp nháy liên tục, thực sự mê ảo và đẹp sửng sốt. Hai đứa tôi vội vàng chạy hùng hục ra tới gần chân tháp để nhìn cho thật rõ, thật gần, thật đã. Vài giây sau, hai đứa giật mình nhớ ra đã sắp tới giờ tàu điện đóng cửa, và thế là lại hộc tốc chạy ngược trở về, vừa chạy vừa ngoái nhìn tạm biệt tháp Effiel một lần nữa.

Anh và tôi chạy cắm cúi, hồng hộc băng qua cả những lối tắt công viên, vườn hoa, vừa lầm rầm cầu nguyện chuyến tàu cuối cùng chưa chạy mất. Tôi nhận ra phía đằng sau hai đứa tôi cũng có một vài bạn trẻ Pháp ham chơi đang hùng hục chạy tàu chuyến cuối.

Tới được bến tàu, tôi đứng chống nạnh thờ dốc. Anh chạy tới trước được vài giây. Nhưng bến tàu đã đóng. Chuyến cuối đã vừa chạy. Trên tay chúng tôi vẫn là hai tấm vé tàu còn dang dở lượt về chưa kích hoạt.

Hai đứa ngồi bệt xuống sàn gạch, thở.

Cuối cùng, chẳng còn cách nào khác, chúng tôi đành bỏ phí mất hai cái vé tàu lượt về và tốn thêm khoảng mười mấy Eur gọi Uber về hostel, nhưng hình ảnh Sparkling Effiel thì vẫn còn nhấp nháy trong đầu tôi. Và cái kí ức bạc lấp lánh đó thì cũng đáng một lần nhỡ tàu ở Paris này…

Nguồn:  minvitamoon

Chủ đề:
Bạn đang xem danh mục: Tâm sự

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Tin cập nhật